Nghĩa vụ gắn nhãn nội dung AI nằm ở Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15. Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết tại Điều 17 và Điều 18. Có hai nghĩa vụ hay bị gộp làm một. Cũng có bốn trường hợp được miễn.
Hai nghĩa vụ, hai chủ thể khác nhau
Điều 11 của Luật tách rõ hai việc:
Nhà cung cấp (khoản 2): bảo đảm các nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra "được đánh dấu ở định dạng máy đọc". Đây là dấu hiệu kỹ thuật, người xem không nhìn thấy.
Bên triển khai (khoản 4): bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video "nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật". Đây là nhãn người xem nhìn thấy.
Ngoài ra, khoản 1 yêu cầu nhà cung cấp bảo đảm hệ thống tương tác trực tiếp với con người được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết khi đang tương tác với hệ thống. Khoản 3 yêu cầu bên triển khai thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI, nếu nội dung đó "có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật". Khoản 5 yêu cầu duy trì thông tin minh bạch "trong suốt quá trình cung cấp hệ thống, sản phẩm hoặc nội dung cho người sử dụng", tức là không làm một lần rồi thôi.
Văn bản không bắt buộc đánh dấu máy đọc
Khoản 1 Điều 17 Nghị định 142/2026/NĐ-CP ghi rõ: nhà cung cấp "không bắt buộc phải thực hiện đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc đối với nội dung đầu ra là văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác". Nghĩa vụ đánh dấu máy đọc áp cho âm thanh, hình ảnh và video.
Khoản 2 Điều 17 cho chọn một trong các cách: tích hợp dấu hiệu nhận biết vào cấu trúc tệp tin hoặc dữ liệu nội dung; tích hợp vào siêu dữ liệu của tệp tin; dùng chữ ký số, chữ ký điện tử hoặc phương thức xác thực kỹ thuật tương đương; hoặc giải pháp kỹ thuật khác bảo đảm nhận diện được.
Khoản 3 Điều 17 nói dấu hiệu phải thể hiện thông tin xác nhận nội dung được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI. Thông tin về nhà cung cấp, hệ thống hoặc thời điểm tạo là phần nhà cung cấp "có thể tích hợp thêm".
Khoản 5 Điều 17 nói riêng về hệ thống mã nguồn mở hoặc cung cấp miễn phí. Nhà cung cấp được coi là đã thực hiện nghĩa vụ khi tích hợp sẵn chức năng đánh dấu, hoặc công bố công khai công cụ, cấu hình tiêu chuẩn, giao diện lập trình ứng dụng hay tài liệu kỹ thuật để bên triển khai tự cấu hình. Khi đó, bên triển khai dùng hệ thống này để cung cấp nội dung ra công cộng phải tự áp dụng giải pháp đánh dấu nội dung đầu ra.
Bốn trường hợp không phải gắn nhãn hiển thị
Khoản 4 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP liệt kê bốn trường hợp bên triển khai không phải gắn nhãn hiển thị:
Nội dung chỉ được chỉnh sửa kỹ thuật để cải thiện chất lượng âm thanh, hình ảnh hoặc video, với điều kiện việc chỉnh sửa không làm thay đổi bản chất hay bối cảnh chính của nội dung.
Văn bản được xử lý bằng công cụ hỗ trợ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải hoặc dịch thuật mà không làm sai lệch nội dung cơ bản của văn bản gốc.
Nội dung được sử dụng trong phạm vi nội bộ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và không được cung cấp ra công cộng.
Nội dung được tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm trong môi trường kiểm soát và không được cung cấp ra công cộng.
Ranh giới hẹp hơn vẻ ngoài. Dùng AI chỉnh màu một bức ảnh sản phẩm khác với dùng AI thay gương mặt người trong ảnh đó. Dịch một bài viết bằng AI khác với nhờ AI viết lại thành một bài mới.
Nhãn phải trông như thế nào
Khoản 3 Điều 18 đặt năm yêu cầu với thông báo và nhãn hiển thị:
Rõ ràng, dễ hiểu và dễ nhận biết đối với người tiếp nhận.
Được thực hiện trước hoặc tại thời điểm người tiếp nhận tiếp cận nội dung.
Không được thiết kế theo cách che giấu hoặc làm giảm khả năng nhận biết bản chất của nội dung.
Phù hợp với loại hình nội dung và phương thức cung cấp nội dung.
Không gây cản trở đáng kể việc hiển thị, trình diễn hoặc sử dụng nội dung.
Khoản 5 Điều 18 cho bên triển khai chọn hình thức: hiển thị trực tiếp trên nội dung; hiển thị tại tiêu đề, phần mô tả hoặc chú thích kèm theo; hiển thị trên giao diện của nền tảng cung cấp nội dung; hoặc phát thông báo bằng âm thanh hay hình thức phù hợp khác.
Phim ảnh và tác phẩm sáng tạo
Khoản 6 Điều 18 cho phép với tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật hoặc nội dung sáng tạo, thông báo và nhãn có thể đặt "tại phần mở đầu, phần kết thúc, phần danh đề, phần mô tả hoặc tài liệu kèm theo tác phẩm". Điều kiện là người tiếp nhận nhận biết rõ nội dung được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI và không nhầm lẫn về nguồn gốc.
Khoản này cũng phân vai trong khâu sản xuất. Bên tạo ra hoặc chỉnh sửa nội dung có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết. Bên trực tiếp đưa nội dung ra công cộng thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở thông tin được cung cấp.
Tẩy nhãn thuộc hành vi bị nghiêm cấm
Khoản 5 Điều 7 của Luật liệt kê trong các hành vi bị nghiêm cấm việc "che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo". Vì vậy, quy trình gắn nhãn cần giữ được nhãn từ khâu tạo nội dung tới lúc phát hành.
Quy trình gắn nhãn doanh nghiệp nên dựng
Lập danh sách mọi kênh có đưa nội dung ra công cộng: website, mạng xã hội, quảng cáo, video sản phẩm, tổng đài có giọng nói tổng hợp.
Với từng kênh, xác định nội dung nào do AI tạo hoặc chỉnh sửa, và nội dung đó có rơi vào bốn trường hợp miễn hay không.
Kiểm tra khâu xuất bản có làm mất siêu dữ liệu hay không. Nhiều nền tảng nén lại ảnh và xóa sạch siêu dữ liệu.
Với nội dung thuê ngoài, đưa nghĩa vụ cung cấp thông tin về việc dùng AI vào hợp đồng với bên sản xuất.
Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và cập nhật danh mục tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật tham chiếu cho việc đánh dấu và gắn nhãn. Khoản 6 Điều 17 và khoản 7 Điều 18 ghi rõ việc công bố này "không làm phát sinh thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc nghĩa vụ ngoài quy định của Nghị định này".
Tin nhắn chăm sóc khách trên Zalo nằm ở đâu trong bức tranh này
Nhiều cửa hàng dùng AI để soạn tin nhắn và trả lời khách trên Zalo. Nội dung nào cần thông báo hay gắn nhãn vẫn phải do người phụ trách pháp lý của doanh nghiệp xác định theo các điều khoản trên. Phần công cụ chỉ giúp bạn giữ quyền quyết định câu chữ.
Với Zame, phần mềm chạy trên tài khoản Zalo cá nhân:
Câu trả lời do bạn soạn: AI Chatbot của Zame tự trả lời tin nhắn và bình luận theo kịch bản bạn soạn, chạy 24/7. Muốn khách biết họ đang nhận câu trả lời tự động, bạn viết điều đó vào kịch bản.
Bản nháp có người duyệt: AI của Zame soạn nhiều biến thể từ một mẫu tin, mỗi khách nhận một bản khác nhau. Bạn đọc lại mẫu và các biến thể trước khi gửi.
Câu hỏi thường gặp
Bài viết do AI soạn có bắt buộc đánh dấu máy đọc không?
Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, nhà cung cấp không bắt buộc đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc với nội dung đầu ra là văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nghĩa vụ thông báo theo khoản 3 Điều 11 của Luật là một việc khác và vẫn cần xem xét.
Dùng AI để dịch hay sửa chính tả có phải gắn nhãn không?
Khoản 4 Điều 18 miễn gắn nhãn hiển thị với văn bản được xử lý bằng công cụ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải hoặc dịch thuật, nếu không làm sai lệch nội dung cơ bản của văn bản gốc.
Nhãn có thể đặt ở phần mô tả bài đăng không?
Khoản 5 Điều 18 cho phép hiển thị tại tiêu đề, phần mô tả hoặc chú thích kèm theo nội dung, miễn đáp ứng năm yêu cầu ở khoản 3.
Muốn khách biết lúc nào là trả lời tự động, lúc nào là người thật? Viết sẵn câu giới thiệu trả lời tự động vào kịch bản Zame, rồi duyệt từng mẫu tin AI soạn trước khi gửi.